Truyện ma kinh dị - Thung lũng ma (P3). Truyện ma kinh dị, Thung lũng ma "Trên chiếc giường đẫm máu, một đống thịt bầy nhầy bị cắt nát bởi một loại dao vô cùng sắc bén, loại dao mà thợ cắt tóc dùng để cạo mặt, được tìm thấy ngay bên xác nàng. Lưỡi dao mỏng như lá mía, sắc như nước đã tạo nên những đường cắt dài, be bét trên khắp cơ thể nàng..." Đọc tiếp diễn biến ly kì của truyện ma kinh dị - Thung lũng ma ở dưới đây nhé!

>> Truyện ma kinh dị - Thung lũng ma (P2)

truyen-ma-thung-lung-ma-2-.jpg

Truyện ma kinh dị - Thung lũng ma

Truyện ma kinh dị - Thung lũng ma

Phía nam Đà Lạt, trên đường đi đèo Ngoạn Mục, chùa Sư Nữ chênh vênh trên sườn đồi.

Người thiếu phụ tạ từ sư bà, trở gót. Cánh cửa tam quan sơn mầu son vừa khép lại sau lưng. Chiều xuống. Ánh nắng vàng chỉ còn đọng trên một phần những bậc xi măng mầu xám ở trên này. Phần dưới kia đã mờ tối. Lối xuống nhỏ lại dần tới tận chân đồi.

Người đàn bà còn trẻ. Đôi má mịn màng hây hây, làn da đẹp nổi tiếng của các kiều nữ Đà Lạt. Đôi mắt đen láy, thực buồn. Nàng đang có tâm sự. Cửa Phật là nơi nàng thổ lộ tâm tình. Là nơi bấu víu cuối cùng của cuộc đời. Cầu xin Trời Phật độ cho chồng con, cho thân phận côi cút còn kẹt lại ở quê nhà.

Nàng thực bơ vơ giữa nơi quê hương mà lòng như một sa mạc quạnh hiu. Dưới kia, trại Hầm sương chiều giăng mắc. Từ đây nhìn xuống, thung lũng mận mơ trắng xóa hoa xuân. Mấy mái nhà ngói đỏ ẩn hiện trong lùm cây xanh đậm màu. Nhà nàng nhỏ xíu, ở xa tít bìa rừng phía đông. Trong đó, giờ này chẳng còn ai. Chồng xa từ lâu. Hai đứa con đã gửi đi chui. Nàng cũng đang sửa soạn cho một chuyến liều mạng. Rừng mận nhà nàng thì đành bỏ lại.

Tiếng thở dài nhẹ nhẹ vang lên trong chiều vắng. Người thiếu phụ khẽ đến những bước chân lơ đãng, bỏ dần sau lưng 138 bậc thềm xi măng. Trời lạnh sương mù tạt qua trước mặt, con đường đất đỏ vắng ngắt. Những gốc mận dại mọc hoang hai bên đường nở đầy hoa trắng như tuyết pha. Nàng ngậm ngùi nhớ lại những ngày thơ mộng xa xưa. Đôi mắt người đẹp đất Đà Lạt trăng mơ. Tất cả rồi cũng đã qua đi như một giấc mộng. Nhưng kỷ niệm êm đềm sẽ muôn đời không phai. Nàng thương từ ngọn cây, cọng cỏ, từ đại lộ phố thị cho tới con đường viền cỏ xanh dẫn vào rừng cây trái. Người chồng thương yêu trao thân gửi phận. Một thời hoa bướm nhân tình. Thành phố của tình yêu, của trăng, của hoa, của đồi thông bốn mùa xanh ngắt, của hồ Xuân Hương, hồ Than Thở, những ngọn thác ân tình. Nay mai, một chuyến đi vô cùng nguy hiểm lênh đênh, mong tới một chân trời xum họp. Nàng hồi hộp, lo sợ. Tương lai mịt mờ và đầy bất trắc.

Bỗng có tiếng cười khan ở đàng trước mặt. Nàng nhìn lên. Một bóng áo vàng ngạo nghễ chặn ngang đường. Nàng run sợ. Nó đã theo mình từ lúc nào. Tên công an ở đồn phía trên chùa Sư Nữ. Thằng đàn ông đểu giả đã bám nàng mấy lúc gần đây.

Con đường độc đạo khiến nàng không lối thoát. Bối rối. Sợ hãi tột cùng. Đường quá vắng vẻ. Thực ác. Định mệnh thực ác.

Nàng ngừng lại. Rồi lùi. Hắn tiến đến mau như chớp. Hai tay giang ra chụp bắt. Nàng chống cự mãnh liệt nhưng không thoát. Ú ớ rồi la lớn lên thất thanh. Tiếng vang vọng tới cuối rừng mận mơ, nhưng không một lời đáp ứng! Hắn biết điều đó rất rõ. Không một ngần ngại. Làm tới. Nàng vùng vẫy, van lơn. Mặc! Không xong rồi. Ngàn năm một thủa. Con hùm đói đã vồ được mồi ngon. Không thể kìm hãm. Vào bụi rậm ven đường. Cần gì phải vào bụi bờ vì có làm ngay trên mặt lộ cũng chẳng ai thấy. Nhưng hắn vẫn lôi nàng vào bụi rậm. Những mảnh quần, áo xé vội. Mặc nàng la hét. Làn da trắng phau lung linh trước mặt. Nàng kiệt sức, rồi, thế là xong một đời, cấu, cắn, la, cuối cùng cũng xong. Nàng hét lên lúc bừng tỉnh cơn hãi hùng:

- Tao sẽ tố cáo mày lên Huyện ủy. Tao sẽ tố cáo mày. Thằng quỷ.

Thằng quỷ cười hềnh hệch. Rồi tiếng cười chợt tắt. Đôi mắt quắc lên, gân máu mắt đỏ lòm, răng nhe, hàm bạnh ra, hai bàn tay gồng lên xiết chặt. Nàng thoáng thấy việc chẳng lành, nhưng đã muộn! Cổ nghẹt. Mắt trợn ngược, những giọt nước mắt đớn đau, tủi nhục đổ như suối trên má, tắc nghẽn, êm xuôi...

Tên công an vất cái xác lõa lồ vào rừng sâu. Hắn đã giết hàng trăm mạng, chứ đâu phải đây là lần đầu! Thản nhiên sửa lại áo quần, bỏ đi về đồn công an.

Trên kia, chùa Sư Nữ mầu đỏ chót, vắng hoe!

Thung Lũng Hoa Vàng

Trong thời gian đó, tại San Jose, tiểu bang California, người chồng đã có vợ khác từ bao giờ! Đầu mùa xuân, hai đứa nhỏ được đón sang Mỹ từ một trại tỵ nạn ở Thái Lan. Con Hiền mới lên chín, thằng Vũ em nó mới bảy tuổi đầu. Gầy còm, đen đủi, ngớ ngẩn đến tội nghiệp. Chúng chẳng biết đây là đâu. Chúng chẳng biết đã rời xa quê hương hàng nửa vòng trái đất.

Người cha dạy hai con gọi người vợ mình bằng Mẹ. Hai đứa trẻ trố mắt nhìn nhau ngần ngại. Thằng Vũ phụng phịu:

- Mẹ ở Đà Lạt. Mẹ bảo Tết sẽ đón chúng con về mà.

Mắt người đàn bà lay động. Sắc mặt đổi khác. Con Hiền thoáng thấy có gì khác lạ:

- Mày đừng cãi bố. Chào mẹ đi.

Hai đứa khoanh tay cúi đầu trước người mẹ xa lạ, nhưng cũng không đủ làm cho mặt cô ta tươi lại.

Buổi tối, hai vợ chồng ngồi bàn chuyện hai đứa nhỏ.

- Mai anh đi xin cho chúng nó vào trường. Trưa về, tìm babysitter gửi...

Người vợ sẽ thở dài, gạt đi:

- Thôi, thư thả. Quanh đây không có babysitter. Chúng nó mới tới, để ở nhà ít lâu đã rồi hãy hay. Lớn rồi, chúng cũng biết tự lo lấy mọi chuyện.

Căn nhà ba phòng ngủ trước đây vắng vẻ, nay rộn lên tiếng cười đùa của hai đứa nhỏ. Vợ chồng bỏ ra đi từ rất sớm trước khi chúng nó thức dậy. Theo lời bố dặn, con Hiền và thằng em tự lo bữa ăn với các thực phẩm đã mua sẵn, để trong tủ lạnh.

- Mày ăn hột gà không? Nhiều quá.

Mỗi đứa ăn một chiếc trứng gà với bánh san-uýt. Thằng Vũ muốn ăn thêm, nhưng con Hiền gạt đi:

- Ồ, không được, năm chục đồng một chiếc hột gà đấy mày.

Thằng nhỏ tiu nghỉu. Trong tủ lạnh đầy thịt, nhất là thịt gà. Hồi còn ở nhà, chỉ có ngày giỗ chạp hay Tết nhất chúng mới được ăn thịt gà, còn thì là rau muống với cơm độn khoai.

- Mày có biết đây là đâu không?

Thằng Vũ hỏi con Hiền. Con chị ngẩn ra một chập, rồi nói bừa:

- Tao cũng không biết. Hồi ở trong trại, cứ thấy nói đi... Mỹ. Mỹ Tho chứ gì...

Thằng Vũ nhớ ra điều gì, cướp lời:

- Còn đi Tây... là Tây Ninh chứ gì.

Con Hiền cười:

- Có người phải đi Phi... chắc là phi trường Tân Sơn Nhứt, mày nhỉ?

Chúng nó ở trong trại không lâu, nên cũng không biết được gì hơn. Con Hiền nằm xoài trên thảm phòng familyroom:

- Mặc kệ, đâu cũng được. Nhưng sao ở đây coi mòi sướng hơn ở Sài Gòn nhiều.

Nhưng bỗng nó nhỏm dậy, la lên:

- Không, chắc đây là nơi nào thực xa, thực xa nhà mình. Lúc vượt biên, họ nhốt mình dưới hầm tầu mấy ngày, chắc là trại tỵ nạn cũng xa nhà lắm, rồi máy bay bay mấy ngày nữa... Đây chắc là Mỹ...

- Mỹ là gì?

- Mỹ là Mỹ đó.

- Tết mình có về Đà Lạt được không?

- Chắc không.

- Mẹ mong lắm. Tao nhớ mẹ quá.

Hai đứa lại ăn. Cứ bánh mì với trứng gà mà đớp. Chúng thấy mấy trái nho ủng trong tủ lạnh mừng như bắt được vàng, ăn ngấu nghiến.

Mấy ngày sau, hai đứa bị bà vợ của bố gọi ra chỉnh cho một trận nên thân:

- Tụi bay hư quá. Ăn uống dề dãi, phá phách nhà cửa, giường nệm lôi thôi...

Hai đứa dơm dớm nước mắt.

Ngày hôm sau, chị em tiu nghỉu, nằm khàn. Mỗi đứa được phát cho một thỏi "kẹo cao su", hai chị em chia nhau nhai trọn ngày.

Thằng Vũ chống tay dưới cằm, than:

- Buồn bỏ bà...

- Tao cũng vậy. Nhớ bà, nhớ mẹ quá!

Thằng Vũ ngồi dậy:

- Hiền, mà kể chuyện Phạm Công-Cúc Hoa đi...

- Kể hàng chục lần rồi...

Thằng Vũ cau mày:

- Tao thấy bố giống ông Phạm Công, bà ấy giống mụ dì ghẻ... còn tao giống thằng Tiến Lực, mày giống con Nghi Xuân.

Con Hiền phản đối:

- Mày nói bậy, mẹ đã chết đâu mà có dì ghẻ?

- Ừa.

Thằng Vũ lại nằm ềnh ra sàn nhà lim dim ngủ. Bỗng nó gãi đầu như điên. Con Hiền đến bên nó bảo:

- Mày đưa đầu tao xem có chí không. Mấy hôm trước ở trong trại, tao chải đầu cho mày thấy chí rụng như sung.

Thằng Vũ lùi ra xa, gạt đi:

- Tao tắm xà bông rồi mà.

Con Hiền vẫn lết tới, vạch tóc thằng em:

- Chưa chắc hết. Ở dơ, bả lại chửi cho.

Thằng Vũ nghe con chị dọa, đành nằm im. Con Hiền lôi đầu thằng em tới gần cửa patio, vạch tóc tìm chí. Nó bắt được liên tiếp mấy con, trách em:

- Mày ở dơ quá. Phải siêng tắm không chết đòn đấy.

Thằng Vũ cười trừ:

- Mày bắt chắc cũng còn sót. Mẹ mà ở đây thì không còn một mống.

Con Hiền buồn rầu hỏi:

- Mày còn nhớ đoạn con Nghi Xuân và thằng Tiến Lực bị dì ghẻ đánh, đang đêm, chúng chạy ra tha ma, mẹ chúng hiện lên bắt chí cho chúng nó không?

- Ừa, mẹ chúng nó bắt chí tới sáng, mãi tới lúc gà gáy rồi mới biến đi, đúng không?

- Ừa, mày nhớ khá lắm. Tụi nó còn sướng hơn mình, mày nhỉ. Mình mà bị bả đánh đòn là cứ chịu chết thôi. Mẹ ở Đà Lạt làm sao tới đây cứu mình!

Thằng Vũ bỗng vùng dậy, nói:

- Nếu mẹ mình cũng chết rồi thì mẹ có thể đến đây với mình được, phải không mày?

Con Hiền rùng mình, la em:

- Mày nói bậy. Làm sao mẹ chết được. Tết đến, vườn nhà mình nở đầy hoa đào, hoa mận, hoa mơ là mẹ đón mình về...

Hôm chủ nhật, trời bỗng ấm áp. Bố dẫn hai đứa đi bộ tới thăm một người bạn cách nhà không xa. Hai đứa lần đầu tiên được ra ngoài. Con đường nhựa chạy dài, thẳng tắp lên dẫy núi trước mặt. Căn nhà đến chơi ở cuối dẫy, mái ngói đỏ chót, lưng quay ra một vườn mơ, trắng xóa những hoa.

Con Hiền khẽ nói với thằng Vũ:

- Giống vườn nhà mình nhỉ.

- Ừa, hôm nào mình xin ra đây chơi đi. Chắc khoái lắm. Đâu có xa, đi bộ một chút xíu.

Bố chúng nhìn hai đứa nói:

- Ừ, giống nhà mình. Để hôm nào ấm áp, bố dẫn tụi bay ra đó chơi.

Con Hiền reo lên:

- Bố nhớ nhá. Ở nhà mẹ và tụi con ra vườn làm cỏ hoài.

Người đàn ông bỗng cảm thấy xót xa, nên vội lảng sang chuyện khác:

- Thôi lẹ chân lên, còn về ăn cơm.

Những ngày sau đó, hai đứa hết chuyện, nằm quay lơ ra ngủ suốt ngày. Thực buồn tẻ.

Có hôm, thằng Vũ nhớ tới rừng mơ, nhắc con Hiền:

- Mình ra rừng mơ chơi đi.

Con Hiền gạt đi:

- Sợ bả biết lại chết đòn.

Thằng Vũ im một lúc rồi lắc đầu:

- Bả làm sao mà biết được.

- Nhưng tao đâu biết lối đi.

- Khó gì. Ra ngoài này, quẹo trái, rồi lại quẹo trái nữa là tới lộ. Đi thẳng một giấc là tới rừng mơ liền à.

Con Hiền vẫn ngần ngại:

- Đông xe thấy mồ...

- Mày nhát như cáy.

Thằng Vũ nói xong chán ngán bỏ đi.

Hai hôm sau, vào buổi trưa, thằng Vũ lại nhắc tới vụ ra rừng mơ. Con Hiền bị mê hoặc, lén cùng em mở cửa ra ngoài. Hai đứa đi một chập, nhưng đường xa hơn chúng nó tưởng. Lại sợ bà vợ của bố bắt gặp, dù biết bà ấy còn đang đi làm. Vì thế, khi đến nơi, chúng chỉ dám đứng bên ngoài ngó lơ vào vườn đầy hoa trắng phớt hồng rồi vội bỏ về một cách thèm thuồng.

Nhưng không may cho hai chị em đã bị bà vợ của bố bắt gặp khi về ngang chợ 7 - Eleven, cách nhà không bao xa. Bà ta đón chúng ngay ở cửa vào nhà. Hai đứa tá hỏa tam tinh vì mấy cái bạt tai:

- Ai cho phép tụi bay ra ngoài chơi? Ra kia quỳ gối cho tao coi. Cái đồ mắc dịch.

Bà ta chỉ còn đủ hơi nói được một câu đó, rồi mệt lử, chạy vội ra bồn rửa chén nôn ọe thốc tháo.

Hai chị em lấm lét nhìn nhau, rồi ra hiệu đưa nhau ra quỳ gối ở cuối familyroom.

Bà vợ bố đã bỏ vào phòng nằm. Quỳ hàng giờ cũng không thấy bà ấy ra để tha tội. Chắc bà ta ngủ quên rồi. Hai chị em mới đánh bạo lết lại gần nhau, xì xèo:

- Mày đau không Hiền?

- Còn mày?

- Tao không đau mấy. Nhưng chưa bao giờ thấy mẹ đánh tụi mình như vậy...

- Đã hẳn... vì bả đâu có đẻ ra tụi mình.

- Hôm nay sao bả về sớm vậy?

- Chắc bịnh. Mày không thấy bả ói ở bồn chén à?

Thằng Vũ gãi đầu sồn sột. Con Hiền nhìn em:

- Chắc đầu mày chưa hết chí đâu.

Hai đứa quỳ cho đến lúc bố về. Nhưng bố không để ý tới tụi nó, tất tả chạy vào buồng với cô vợ trẻ. Có tiếng khóc, tiếng nói chuyện thì thầm vọng ra. Một lúc sau bố mới ra đến chỗ tụi chúng quỳ, mặt thoáng giận, nhưng cũng chỉ mắng nhẹ:

- Hai đứa bay hư lắm, dám lén ra ngoài chơi. Tụi bay mua gì ở ngoài đó?

Thằng Vũ oan ức, khóc:

- Tụi con đâu có đi chợ... tụi con ra...

Nó chợt nghĩ ra rừng mơ còn quá xa hơn chợ số 7 nữa, nên nín luôn.

Bố giận thêm vì coi bộ hai đứa nói dối:

- Đi đâu? Chúng mày làm mẹ mệt. Mẹ đau vì sắp có em bé, biết chưa?

Hai đứa đâu biết gì chứ, nên không trả lời. Bỗng từ trong phòng, có tiếng gọi lớn:

- Anh.

Bố vội vã bỏ chúng đi vào buồng trong. Có tiếng bả nói:

- Đúng tụi nó ra chợ rồi... em mất năm đồng đây này... Cái ví để ở đây tối qua... đích thị mấy đứa mất dậy đó ăn cắp.

- Thực không?

- Lại không thực. Anh tin sao được chúng nó. Ở bên đó, người ta chỉ dậy chúng ăn gian nói dối, ăn cắp ăn nảy thôi à... Anh không biết sao?

- Thôi được, để anh dậy chúng nó. Em nằm nghỉ đi...

Có tiếng thở dốc... Bố ra, mặt hầm hầm:

- Đứa nào ăn cắp tiền của mẹ?

Nguy to. Hai chị em tranh nhau nói như hai cái máy:

- Lạy bố, con không lấy...

- Con cũng không lấy...

Bố không tin, quắc mắt:

- Ai dậy tụi mày ăn cắp?

- Lạy bố, chúng con không lấy thực mà...

Con Hiền khóc nức, tủi thân, nói:

- Bố không tin tụi con, bố khám đi...

- Tao phải đánh.

Hai đứa khóc, nhẫn nhục nằm úp xuống sàn nhà để nhận đòn.

Cả buổi tối hôm đó, bố và bà vợ ở luôn trong phòng. Hai chị em đói meo.

Trong Rừng Mơ

Tôi gặp người đàn ông trong rừng mơ vào một đêm đi hái trộm trái cây.

Dưới ánh trăng suông, bóng anh thấp thoáng khi ẩn khi hiện ở mãi tận cuối khu rừng, gần chân đồi.

Lúc đầu, tôi tưởng là người coi vườn đã vội vàng tìm chỗ tránh. Nhưng sau đó, thấy anh cứ đi thơ thẩn hết chỗ này đến chỗ khác, mắt dáo dác như tìm kiếm ai. Sau cùng, thấy anh cất tiếng gọi:

- Hiền, Vũ... tụi con ở đâu? Bố đây...

À thì ra anh cũng đồng cảnh ngộ... dẫn con đi hái trộm trái cây, nhưng chắc đã lạc nhau. Tôi đến bên làm anh giật mình. Tôi lên tiếng trước để anh biết là "đồng chí" mà yên tâm:

- Tôi đây. Anh bạn hái được nhiều chưa? Lạc bầy nhỏ hả?

Anh ngơ ngác hỏi ngay:

- Ông... ông có thấy hai đứa con tôi ở trong này không?

Vợ tôi đứng sau lưng tôi trả lời:

- Không. Chúng tôi không gặp các cháu. Lạc lâu chưa?

Anh nhìn mông lung:

- Lâu rồi... Mấy tháng nay rồi!

Thực ngạc nhiên... Tôi cũng đã tính ra về, nên nói:

- Ta phải nhờ cảnh sát kiếm mới được, anh ạ. Chúng ta về thôi. À mà xe anh đậu ở đâu?

- Tôi không có xe.

- Vậy chúng tôi đưa anh về.

Người đàn ông bước đi đờ đẫn. Chúng tôi cũng thông cảm được tình cảnh của anh lúc này.

Ra tới chỗ đậu xe, tôi nói:

- Nhà anh ở đâu, tôi xin đưa anh về?

- Nhà tôi... Anh cho tôi về với... Biết đâu anh chị giúp tôi tìm được các cháu.

Chúng tôi đồng ý.

Trong phòng khách, bên tách cà phê nóng, người đàn ông như lấy lại được phần nào bình tĩnh, nên thong thả kể lại câu chuyện thương tâm của mình, chuyện hai đứa con mất tích từ mấy tháng nay khiến anh mất ăn mất ngủ vì thương nhớ.

Nhà tôi an ủi:

- Chắc các cháu cũng không sao đâu. Cảnh sát ở đây họ tài lắm... không lâu họ sẽ tìm ra các cháu đưa về cho anh. Yên tâm đi...

Anh lắc đầu thất vọng:

- Ngày nào tôi cũng phôn cho chúng nó... nhưng vẫn chẳng có tin tức gì...

Tôi chợt hỏi:

- Nhưng sao anh lại vào tận rừng mơ tìm các cháu trong những đêm hôm khuya khoắt như thế này?

Anh mơ màng, rồi như lưỡng lự không muốn nói một điều gì... Nhưng chập sau, anh lại mang chuyện hai đứa nhỏ ra kể lể. Với một giọng đầy xúc động, anh tiếp:

- Hôm khám phá ra hai đứa mất tích, tôi đã nghi chúng giận vợ tôi rồi bỏ nhà đi. Nhưng điều làm tôi sợ hãi là bức thư này của con Hiền để lại.

Anh vừa nói, vừa móc ví lấy ra một tấm giấy nhỏ, nhầu nát trao cho tôi. Dưới ngọn đèn đêm hiện lên nét chữ khá cứng cáp của con nhỏ, nhưng đã bị mờ vì đọc đi đọc lại nhiều lần: "Thưa bố, con và thằng Vũ đã gặp mẹ đêm qua ở trong rừng mơ. Chúng con đi theo mẹ đây, vì đầu thằng Vũ nhiều chí lắm, chỉ có mẹ mới bắt hết được thôi..."

Anh nói như để giải thích thêm về hành động của mình:

- Có người Mỹ ở kế bên rừng mơ nói với tôi là một đêm trăng, ông ta nghe thấy tiếng trẻ con nô dỡn ở trong đó... chúng nói thứ tiếng gì mà ông ta nghe không hiểu.

Tôi trả lại anh lá thư, lắc đầu, khẽ cười, nói:

- Cũng lạ, nhưng chị còn ở Đà Lạt cơ mà...?

Tôi bỗng thấy người đàn ông như lả đi, mắt thất thần, miệng thì thào:

- Không... tôi nhận được thư từ Việt Nam gửi qua nói nhà tôi đã bị nạn... chết rồi...!!!

Vợ tôi ngồi bên cạnh tôi khẽ rùng mình, bóp mạnh tay tôi khi nghe câu nói cuối cùng của người đàn ông.
(Bạn đang đọc truyện tại KenhTruyen.Info, lưu lại và giới thiệu tới bạn bè nhé)
Tiếng còi alarm hú ầm nhà làm tôi tỉnh giấc trong bàng hoàng. Tiếp theo có tiếng súng nổ chát chúa sau nhà. Tôi vội ra cửa sổ, nhìn xuống vườn sau. Có những vệt đèn pin chiếu sáng ở lùm cây góc vườn.

- "Chết chửa...!" Tôi chợt nhớ tới Dân và khẩu súng hắn cho tôi coi mấy bữa trước... "Đã có đứa bị hắn bắn trúng rồi... Rắc rối lắm đây... dù là một tên trộm đi nữa, cũng không ổn chút nào".

Có tiếng điện thoại reo. Chắc từ công ty alarm hoặc cảnh sát gọi. Tôi quay lại, nhà tôi cũng đang thở dốc vì kinh hãi. Tôi nói nhanh:

- Chắc tụi Trible A, em bảo nó mình đang kiểm soát lại nhà cửa, nếu sau năm phút mình không gọi lại thì nó báo cho cảnh sát. Để anh xuống vườn xem sao.

Tiếng hú của alarm vẫn vang lên trong đêm vắng làm lòng tôi thực bồi hồi khó chịu. Tôi chạy nhanh xuống thang gác, tắt vội alarm rồi phóng ra vườn. Tôi gặp Dân ở lối đi, nên hỏi ngay:

- Gì thế? Có sao không?

- Chết rồi!

Tôi hoảng quá, hỏi lại:

- Trời, bỏ mẹ rồi... đứa nào vậy?

- Không, con mèo!!!

Tôi vừa ngạc nhiên, vừa mừng. Dân kéo nhanh tôi ra góc vườn. Ánh đèn pin bật sáng, rọi trên mình một con mèo đen rất lớn, như một con mèo rừng... đầu nó bị đạn vỡ tung, máu chảy lênh láng. Thằng cha bắn tài thực... cả một đời binh nghiệp có khác.

Trong khi đó, Dần đầu cúi thấp, khẽ nói:

- Ông cảm phiền nhé... Tôi làm việc thực thiếu suy nghĩ.

Chuyện đã thế, tôi cũng đỡ bực dọc, nên nói:

- Thôi, không sao, để tôi vào gọi lại cho tụi Trible A, không cảnh sát nó tới đây bây giờ...

Chúng tôi yên lặng vào nhà.

Trong khi tôi nói điện thoại thì Dân đứng nhìn ra ngoài vườn sau, coi bộ nghĩ ngợi điều gì. Sau khi giải quyết mọi chuyện êm xuôi, tôi quay sang Dân. Thấy tôi, Dân khẽ đẩy cánh cửa sau cho dịch rộng thêm ra, như muốn phân trần điều gì. Không nỡ để hắn nghĩ ngợi vì việc làm gần như vô thức vừa qua, tôi an ủi:

- Thôi, không sao...

- Này ông Linh...

Ngoài vườn lúc này thực mờ ảo dưới ánh trăng suông. Mấy bóng thông che khuất nửa sân sau trong bóng tối. Cây đào đã bắt đầu trụi lá, cành vươn lên khẳng khiu. Tôi chợt có một ấn tượng rất quen thuộc với cảnh này, mà hơn ba năm ở đây, mãi hôm nay tôi mới sực nhớ tới.

Lúc đó, Dân nói, chưa bao giờ khẽ như thế:

- Tôi đang ngủ, chợt như nghe thấy có tiếng quát tháo rất lớn ở ngoài vườn, rồi tiếng đàn bà thét lên như đang bị ai tấn công... Cái phản ứng bén nhạy của một tên đánh giặc, vào sinh ra tử, tôi chồm dậy, quơ vội khẩu súng, mở cửa sau phóng ra ngoài. Lúc đó, tôi thực không để ý tới tiếng còi alarm hú trong nhà, mà chỉ dáo dác nhìn khắp vườn... Không một bóng người, nhưng chợt lại thấy một con mèo đen đó đang hung hăng đuổi bắt một con sóc chạy vòng quanh sân. Rồi không biết vì sao lúc đó tôi không hề suy nghĩ phải trái, nổ súng giết chết con mèo khốn nạn kia để cứu con sóc... Sau phát đạn, con mèo chỉ chạy tới góc vườn là chết tốt...

- Bể sọ như thế mà còn chạy được như vậy mới là lạ lùng...

Như không nghe tôi nói, Dân lẩm bẩm:

- Bậy thực...

truyen-ma-thung-lung-ma-1-.jpg

Truyện ma hay - Thung lũng ma

Truyện ma kinh dị - Thung lũng ma

Bên ngoài, ánh trăng vừa ló khỏi ngọn thông, chiếu sáng gần hết chiếc sân và cả một góc vườn khiến cây đào vụt cao lên sừng sững... Tôi liên tưởng tới một chuyện thực xa xưa... một đêm trăng tương tự như đêm nay, nhưng lâu đến bốn mươi năm rồi... ở một nơi cách xa đây một nửa quả địa cầu.

- Ông Linh, nghĩ gì vậy... tôi thực ân hận.

Tôi nghe tiếng Dân rất là mơ hồ... cho mãi đến lúc Dân nhắc lại câu: "Tôi thực ân hận... tôi thực ân hận..." tôi mới như chợt tỉnh, gượng cười:

- Không đâu Dân... xin lỗi, tôi đang nghĩ đến một chuyện... À này Dân, ông nghe thấy tiếng đàn bà thét trong giấc ngủ thực sao?

Dân hơi ngạc nhiên, rồi phân bua:

- Tôi nói thực đấy... tôi nghe rõ tiếng đàn ông quát tháo, tiếng đàn bà kêu thét... ông tin tôi không?

- Tôi tin chứ...

Đồng hồ lúc đó chỉ hơn hai giờ sáng. Tôi ngồi xuống ngưỡng cửa. Dân nghĩ ngợi sao, cũng ngồi xuống bên cạnh tôi, yên lặng nhìn ra ngoài. Có lẽ lúc này nhà tôi đã ngủ. Tôi nhìn khắp vườn, mường tượng lại cái cảnh mấy chục năm về trước...

Tuy mới sống gần nhau, nhưng Dân rất hay tâm sự với tôi về cuộc đời trôi nổi của anh. Thường tôi chỉ ngồi nghe. Vì thế, lúc này, nhìn vẻ áy náy của Dân, tôi không nỡ để cho anh bận tâm về chuyện không đâu, nên nói:

- Dân bắn con mèo đó rất phải. Tôi không trách anh đâu.

Dân là người không bao giờ bỏ qua những câu nói mập mờ, nên hỏi ngay:

- Ông nói phải là phải thế nào?

Tôi nhìn ra xa... dưới ánh trăng vằng vặc:

- Câu chuyện xảy ra từ hơn bốn mươi năm trước rồi. Hồi đó, tôi nhớ vào mùa gặt, gia đình tôi đang sống tại một trang trại ở Như Tân, cách thị xã Phát Diệm chừng bảy cây số đường chim bay. Phương tiện di chuyển thời đó thường dùng thuyền. Vì thế, cái trại này nằm ở góc hai con sông tuyệt đẹp. Con Huyền Giang thì chảy về phía Tây, vào mãi tới chợ Hói Đào của tỉnh Thanh Hóa. Con sông Vân Giang thì đổ xuống phía Nam, ra tận cửa biển. Địa thế cái trại này thực tiện lợi. Cha mẹ tôi mới xây một tòa nhà rất lớn, có thể nói là nhất nhì vùng duyên hải. Mái ngói đỏ, nền cao một thước hai có sân thượng, cửa kính lớn, đẹp và tân như một tòa nhà ở giữa một thành phố lớn. Cánh đông tòa nhà là một cái thềm dài tới hai mươi thước, ngang sáu thước, lát đá hoa xanh, được che bởi một vòm cửa cuốn theo hình bán nguyệt, có giàn thiên môn, một loại cây, lá nhỏ như cái tăm, dài chừng hai đốt ngón tay, bốn mùa xanh ngắt, chạy vòng theo cái vòm cuốn này. Phía trước là một khu vườn hoa mà ông cụ tôi săn sóc rất cẩn thận. Một gốc đào được trồng bên thềm để mùa xuân chơi hoa. Xa hơn là hàng nhãn um tùm, anh thấy nó cũng tương tự như cái vườn này, nhưng rộng hơn nhiều. Ở đây, là nơi lý tưởng để ngắm trăng lên. Gia đình tôi thường tụ họp ngồi chơi trên thềm sau bữa ăn chiều và vào những mùa trời ấm áp, trải chiếu ngủ qua đêm luôn. Anh cứ tưởng tượng cái không khí của gia đình tôi lúc đó không khác gì cái cảnh được tả trong bản nhạc Nhớ Quê Hương: "Lúc trăng đang dần nhô cao đầu trên khóm tre già, chúng tôi quây quần vui nô đùa bên mấy khóm hoa..."

Lúc đó đã cuối mùa gặt, nhà vẫn còn đầy những thợ gặt và các cô vò lúa, tối nào cũng vui như hội. Một buổi chiều, ông cậu áp út của mẹ tôi từ trên thị xã xuống để nhắc gia đình tôi về dự lễ cưới của dì út vào hai ngày sau đó. Ông ngoại sợ chúng tôi bận việc nhà rồi quên đi chăng. Cậu tôi là một thanh niên Tây học, tính vui như trẻ nít, ăn diện âu phục may bằng vải đũi mầu mỡ gà sang trọng. Cậu mang theo những món quà chỉ có trên thị xã như bánh đậu xanh, bánh khảo mà trong Nam gọi là bánh in hiệu Thiên Hương và nhất là mấy cái đĩa hát mới.

Chúng tôi đứng ngồi vòng quanh cậu để nghe những chuyện vui của nơi "tỉnh thành":

- Anh chị này, hai cái đĩa này mới về, em mua lúc xuống đây đấy.

Ông anh cả tôi cũng là tay nghệ sĩ, tuổi xấp xỉ cậu tôi, cẩn thận bóc giấy gói ra. Mùi đĩa nhựa thoang thoảng... cái vòng tròn đỏ và hình con chó ngồi bên cái máy hát của hảng Columbia làm mọi người say mê. Anh tôi khẽ reo lên:

- Ồ, Tino Rossi thì nhất rồi...

Anh quay sang tụi nhỏ hỏi:

- Nhà còn kim hát không?

Dân nhớ cái máy hát thời đó chạy bằng dây thiều, đĩa bẩy mươi tám tua, mỗi mặt phải lên dây cót một lần chứ? Kể ra nghe nhạc thời đó cũng tốn sức lao động lắm. Kim thì một cái nghe được hai mặt, tức hai bài hát. Chúng tôi ở xa phố, nên thường bị hết kim hát, nếu chưa kịp gửi đi mua thì phải mài lại kim cũ để chơi. Ông anh kế tôi vội đi kiểm soát lại hộp kim, mang ra đếm cũng còn được hơn mười cái. Thế cũng đủ. Đĩa mới mà phải chơi kim cũ mài lại thì thực uổng...

Buổi tối hôm đó, sau khi ăn cơm xong, ông cậu và ông anh cả tôi bảo nhau:

- Này, đêm nay chúng mình phải diện thực kẻng để đi nghe Tino Rossi hát chứ.

Rồi hai ông diện đồ Tây cẩm như thực, cẩn thận kê chiếc kệ nhỏ ra thềm nhà phía đông để đặt máy hát. Mấy hàng chiếu được trải ra trên thềm. Mẹ tôi cho gọi tất cả mọi người trong nhà ra để cùng ngồi chơi. Cả gia đình tôi ngồi trên hai cái chiếu ở giữa thềm, bên trong là đám con gái vò lúa, ngồi xích lại với nhau cười rúc rich. Đám thợ gặt thì chia nhau mấy bậc thềm đi xuống vườn, ngồi hút thuốc lào vặt ngong ngóng xem ở trên định làm cái trò gì... Nước trà tầu Ninh Thái Ô-tô được hãm ra, chia đều cho mọi người uống, rồi ăn bánh khảo và bánh đậu xanh.

Trời mỗi lúc một tối dần, ánh trăng đang lên, vàng rực một góc trời. Cậu tôi trịnh trọng đặt cái đĩa đầu tiên vào máy. Mọi người yên lặng... tiếng lên dây cót nghe đều đều, thực hồi hộp.

- Thưa quý vị, tôi xin giới thiệu đại danh ca Tino Rossi từ Pa-ri mới sang, xin trình bày nhạc phẩm Serenade của Schubert...

Tiếng vỗ tay rào rào như trong rạp hát thực. Rồi tiếng xè xè của kim cọ trên đĩa hát... và rồi tiếng nam danh ca thời đại vang lên... tuyệt diệu... Bản nhạc đã hay, tiếng hát thực ấm và nhất là cái khung cảnh nên thơ lúc đó làm tôi không bao giờ quên được... vui không tả nổi.

Trong khi mọi người nghe hát, uống nước trà tầu thì mẹ tôi ngồi mân mê cái thiệp cưới của dì tôi... thỉnh thoảng lại đưa sát lên mắt để xem. Dưới ánh trăng, tôi nghĩ bà làm sao có thể đọc rõ chữ... Tôi biết, trong số các em, dì tôi được mẹ tôi thương nhất. Dì sinh cùng tuổi với ông anh cả tôi, vừa tròn sáu tháng thì bà ngoại tôi qua đời. Mẹ tôi mang dì tôi về nuôi cùng với ông anh tôi... mỗi dì cháu một bên không khác gì người mẹ thực... cho tới ngày khôn lớn.

Trăng lên ngang đầu, mấy cái đĩa hát cũng đã nghe hết, mọi người dần dần giải tán. Bọn trẻ nhỏ chúng tôi ngủ quay ra lúc nào không hay.

Nhưng trong đêm khuya, bỗng mọi người choàng thức giấc vì tiếng la của mẹ tôi. Khi tôi tỉnh dậy đã thấy mọi người đang tụ tập trước thềm. Cha tôi đang hỏi mẹ tôi:

- Mơ thấy cái gì mà la hoảng lên thế?

Mẹ tôi không trả lời thẳng câu hỏi, mà nói:

- Thằng Chiêu đâu, gọi tất cả canh điền đi bắt bằng được con mèo đen cho tao...

Anh Chiêu là con nuôi của cha mẹ tôi. Anh đã nghe câu ra lệnh này mấy lần rồi, và đang dặn mấy người canh điền có mặt ở bên thềm nhà... rồi mọi người tản ra, đuốc được đốt lên, soi rõ, xục xạo khắp khu vườn quanh nhà. Ông cậu và ông anh cả tôi thì xuống dưới vườn thu thập mấy cái gối mây... Anh nhớ ngày xưa ở ngoài Bắc, mình đâu có gối bông, mà đều dùng gối đan bằng mây, vuông như chồng sách để gối đầu. Những cái gối này bị mẹ tôi ném hết xuống vườn từ lúc nào không hay...

Mẹ tôi ngồi tư lự trên thềm chờ kết quả cuộc lùng bắt con mèo đen nào đó cho tới sáng. Kết quả là không tìm thấy dấu vết con vật quái đản này của mẹ tôi. Cuộc tìm kiếm vẫn tiếp tục cả sáng ngày hôm sau. Mẹ tôi bẳn gắt luôn nên không ai muốn đặt câu hỏi về vụ này với bà nữa.

Trong khi đó, gia đình tôi thu xếp về thị xã cho kịp đám cưới dì tôi. Cha tôi gọi anh Chiêu, anh Nhỏ ra cắt đặt công việc nhà. Một chiếc thuyền bồng bốn mái chèo được sửa soạn cho cuộc hành trình dài tám cây số, và mất chừng ba tiếng đồng hồ. Loại thuyền này chúng tôi dùng để di chuyển cả gia đình trên sông, dài chừng trên dưới mười thước, rộng non hai thước, có mui. Bên trong trải chiếu, rộng chừng một chiếc giường lớn. Hồi đó, cái thuyền như thế có giá như chiếc xe hơi ngày nay vậy.

Chiều hôm đó, chúng tôi bỏ trang trại để về thị xã. Khi rời bến, mẹ tôi còn căn dặn các anh người nhà phải tiếp tục lùng xét, bắt cho bằng được con mèo đen cho bà. Lúc thường, mẹ tôi là người dễ tính, nhưng khi bà đòi hỏi việc gì mọi người phải làm nghiêm chỉnh, không xảy chuyện lôi thôi to.

Mặt trời khuất dần sau dẫy núi Trường Sơn, sông nước thực êm đềm. Trang trại nhà tôi, rồi làng mạc lùi dần ở phía sau. Sông rộng, đi giữa làng sầm uất, những hàng cây hai bên bờ rủ xuống trông thực tươi mát. Những bông dâm bụt mầu đỏ tươi đong đưa giữa bụi cây xanh đậm. Bọn trẻ chúng tôi ngồi ngoài mũi thuyền để ngắm phong cảnh hai bên sông. Cậu tôi và các anh tôi ngồi trên mui thuyền hát nghêu ngao những bản tân nhạc thời đó, như: "Vừng trăng sáng, soi trên hồ..."

Tiếng cười thỉnh thoảng vang lên nghe rộn rã làm sao! Trời tối dần, chúng tôi phải vào khoang thuyền để ngủ, sợ ban đêm, ngồi ngoài sương lạnh, hoặc vô ý lăn xuống sông, không ai biết được thì chết mất xác...

Tôi chợp mắt được một lúc, bỗng tỉnh giấc thì thấy mẹ tôi đã ra ngoài mũi thuyền chuyện trò to nhỏ với cậu tôi và cha tôi.

Lúc đó, cậu tôi đang hỏi:

- Có thực lúc đó chị tỉnh không?

- Lúc chị thấy mẹ thì chắc chỉ là giấc mơ... Chị mơ thấy một bên là thằng cả, một bên là dì út đang nằm với chị. Mẹ từ dưới vườn đi lên làm chị thực sửng sốt. Mẹ yên lặng ngồi xuống bên bậc thềm, nhìn chị, nước mắt đầm đìa. Chị chưa có phản ứng gì thì mẹ đưa tay vuốt tóc dì út, rồi thằng cả... Chị thổn thức hỏi: "Mẹ về lúc nào vậy?" "- Lâu rồi! Chịu khó nuôi em..." Chị muốn nói nhiều, nhưng không sao lên tiếng được nữa, mà chỉ khóc... Cả hai mẹ con đều khóc. Rồi bỗng mẹ la lên: "Lính nó đến bắt mẹ đi rồi kìa... Lính nó đến bắt mẹ đi...!" Chị nhìn ra ngoài, dưới gốc đào, một bóng đen xuất hiện. Nó hú lên những tiếng quái gỡ nghe rợn người, rồi tiến lên, định lôi mẹ đi. Mẹ lùi lại... rồi líu ríu bỏ đi xuống mấy bậc thềm... đến nỗi chị thấy mẹ như muốn ngã... mẹ bỏ chạy ra phía gốc đào, bóng đen gầm thét đuổi theo... Lúc đó, thương mẹ quá, chị nhảy bổ xuống vườn để tiếp cứu... nhưng rồi chị tỉnh dậy... giữa lúc thấy mình đang đứng dưới mấy bậc thềm...

Mẹ tôi ngưng lại một chút, rồi tiếp:

- Từ cái mê tới cái tỉnh nó lạ lắm... nó như rất gần gũi, chỉ như một khoảng khắc định thần mà thôi. Chung quanh không khác gì trong giấc mơ, nhưng không thấy ai cả... mà chị chỉ thấy dưới vườn lúc đó, một con mèo to lớn đang đuổi bắt một con sóc nhỏ... Tiếng con mèo gào lên dữ dội. Lúc đó, chị không suy nghĩ gì, vớ lấy mấy cái gối chạy tới ném con mèo đen, rồi la lên gọi mọi người dậy. Con mèo chỉ chạy lẫn vào bụi hoa thôi... chứ đâu có đi xa... sao mà mình tìm không ra...

Cha tôi cười:

- Có thể lúc đó mắt mợ hoa lên chăng!

Mẹ tôi gắt:

- Cậu nói lạ, hoa thế nào được. Thằng Chiêu nó nói cũng nghe thấy tiếng mèo gào mà...

Thời gian sau này, chúng tôi quên chuyện con mèo đen, riêng mẹ tôi như lúc nào cũng để tâm tìm kiếm... nhưng không bao giờ bà gặp lại nó nữa...

Trăng đã khuất sau mái nhà, khu vườn nhà tôi trở nên tối đen. Dân ngồi nghe xong câu chuyện tôi kể, rồi nói:

- Tôi thì tôi không thấy người... nhưng chắc chắn nghe thấy tiếng la hét.

Anh vừa nói, vừa bật đèn pin rọi vu vơ lên khoảng vườn rậm rạp, rồi chiếu thẳng về phía góc vườn, nơi có xác con mèo đen, sau đó thong thả đứng lên, nói:

- Thôi ông vào ngủ lại đi... để xác con mèo đen này tôi lo.

Tôi lên phòng nằm... nhưng chưa nóng chỗ, đã thấy có tiếng gõ cửa gấp. Tôi bật ngồi dậy, chạy ra. Dân đang đứng đó, tay cầm chiếc đèn pin còn bật sáng, giọng run run:

- Này ông, xác con mèo đó đâu mất tiêu... rồi...!
(Bạn đang đọc truyện tại KenhTruyen.Info, lưu lại và giới thiệu tới bạn bè nhé)
Người thiếu phụ đã chết thảm trong căn phòng khóa kín của nàng.

Khi đi làm về, người chồng đã khám phá ra cái chết của vợ và vội báo với cảnh sát địa phương. Người ta thấy một cảnh tượng khủng khiếp mà một người can đảm nhất cũng phải rùng mình: Trên chiếc giường đẫm máu, một đống thịt bầy nhầy bị cắt nát bởi một loại dao vô cùng sắc bén, loại dao mà thợ cắt tóc dùng để cạo mặt, được tìm thấy ngay bên xác nàng. Lưỡi dao mỏng như lá mía, sắc như nước đã tạo nên những đường cắt dài, be bét trên khắp cơ thể nàng: từ mặt, mũi, tay chân, bờ ngực, bụng cho đến cả nơi kín đáo nhất của nàng cũng không được chừa... Ghê rợn nhất là người ta thấy nhiều mảnh thịt đã bị cắt từ ngực, bụng, từ hạ bộ nằm vương vãi quanh xác chết. Có lẽ nàng không chết vì một vết thương trí mạng, nhưng vì đã bị mất hết máu. Không có một dấu vết gì chứng tỏ có sự vật lộn đã xảy ra trong phòng: đồ đạc vẫn ngăn nắp, khăn trải giường vẫn phẳng phiu...

Cái chết của người thiếu phụ, một nhà văn nữ, đã làm xôn xao dư luận trong vùng. Hai câu hỏi đã được cảnh sát cũng như mọi người đặt ra là nàng tự tử hay bị giết? Nhiều bằng cớ cho thấy là không có người thứ hai trong phòng lúc nàng chết. Nhưng nói là tự tử thì thực nghịch lý, vì một người dù can đảm biết mấy cũng không thể tự tử một cách rùng rợn, đau đớn như vậy... chứ đừng nói gì đến một người đàn bà...

Nếu chỉ nhìn trên tử thi thì đây quả thực là một vụ giết người vô cùng dã man, thủ phạm phải là kẻ khát máu, và mang nặng một mối hận thù ghê gớm với nạn nhân. Những đường dao tàn nhẫn rạch dài trên cơ thể nạn nhân, những vết máu bắn vọt lên tường, và nhất là những mảnh thịt cắt lìa từ những nơi đặc biệt khiến ai cũng phải nghĩ đến hành động của một tên cuồng dâm...

Thủ phạm có thể là những ai?

Căn phòng được khóa kín, loại khóa chỉ có thể khóa, mở bằng chìa và chỉ có vợ chồng nàng là giữ chiếc chìa khóa này. Theo các điều tra viên, nạn nhân đã chết khi chồng nàng đang làm việc trong sở. Nhưng sau một tuần lễ, nhiều sự kiện đã chứng tỏ người chồng là kẻ đáng tình nghi nhất trong vụ án mạng... nếu giả thuyết tự tử không được chấp nhận. Những bằng cớ được nhiều người biết tới là sự bất hòa đã xảy ra giữa cặp vợ chồng này. Điểm nặng nề nhất là người chồng đã từng bắt được tại trận vợ mình lén lút tư tình với một người đàn ông khác, một anh chàng quê mùa, ít học và là chủ chiếc ghe đánh cá đã đưa người vợ vượt biển... cách đây không lâu. Một nữ sĩ đã từng có tiếng từ hồi Cộng sản chưa cưỡng chiếm miền Nam, phản bội chồng, đi theo một người đàn ông không ra gì đã một dạo khiến dư luận đàm tiếu. Chính vì điểm này đã khiến cho người chồng cảm thấy nhục nhã và căm hận vô cùng. Vì thế, khi vụ thảm sát vo cùng man rợ được loan ra, không ai không có một chút nghi ngờ người chồng là thủ phạm... Tên gian phu cũng được đề cập tới, nhưng ngày xảy ra chuyện, nhiều bằng chứng chứng tỏ hắn vô can. Cuối cùng người chồng đã bị bắt.

Khi được tin Thúc bị cảnh sát bắt đi, tôi đã chính thức đi tìm hiểu vụ án. Thúc là đồng nghiệp của tôi khi còn ở Saigon. Sang tới đây, chúng tôi cũng đã có thời gian học lại ngành luật Hoa Kỳ, nhưng cả hai đều bỏ không thi ra hành nghề luật sư nữa. Thúc đành sống qua ngày bằng nghề điện tử, còn tôi thì mở riêng một văn phòng dịch vụ. Mấy tháng trước đây, được tin vợ bạn sang, tôi đã đến thăm và dùng bữa với vợ chồng Thúc. Tôi cũng đã quen Ngà từ trước, hồi mà chúng tôi còn có những buổi văn nghệ sinh viên trong khuôn viên trường Luật và sau này, trong sinh hoạt báo chí tại Saigon. Ngà hiền lành, nhút nhát và rất dễ bị ảnh hưởng bởi những người chung quanh. Vì thế, trong đời sống gia đình, Ngà là một mẫu người vợ hiền thục và biết vâng lời chồng. Trong thời gian còn ở quê nhà, đôi vợ chồng này sống thực hạnh phúc.

Vị luật sư tôi mướn đã lấy Thúc ra khỏi nhà giam với tiền thế chân tới năm chục ngàn.

Chúng tôi vào căn phòng định mệnh còn nặng mùi tử khí. Khăn trải gường đã thay, nhưng những tia máu còn đọng trên những bức tường chung quanh khiến cả hai đều rùng mình. Thúc im lặng đi vòng quanh chiếc giường, tay thẫn thờ vuốt lại những vết nhăn trên nệm, rồi khẽ thở dài não nuột. Tôi kéo Thúc ra ngoài nhà khách. Buổi chiều hôm, căn nhà vô cùng vắng vẻ... có tiếng nhỏ tí tách đâu đây, có lẽ một cái vòi nước nào đó trong nhà tắm chưa được khóa chặt.

Tôi biết chắc chắn Thúc không bao giờ giết Ngà một cách tàn nhẫn như vậy. Tính anh cũng nhu hòa và đại lượng. Dù bị phản bội, nhưng anh cũng đã nhịn vợ một cách đáng khen. Dù bắt được vợ ngoại tình, nhưng Thúc đã không tự ý phanh phui vụ này để làm nhục vợ, hoặc có những hành động vũ phu. Người ngoài biết được là do những đứa thối mồm, vô công rỗi nghề loan truyền ra mà thôi. Riêng tôi, tôi cũng chỉ biết vậy, và rất ngạc nhiên vì sự thay đổi tính tình một cách lạ lùng của Ngà mà thôi chứ chưa bao giờ tìm hiểu chuyện riêng tư của bạn. Tuy đôi ba lần, tôi cũng muốn đứng ra để giàn hòa giữa hai người, nhưng thấy tình hình cũng chưa có gì gay cấn lắm, nên còn lưỡng lự... thì đột nhiên cái chết của Ngà xảy ra...

- Thúc này, anh có nghi ai giết Ngà không?

Thúc ôm đầu suy nghĩ rất lâu... Câu trả lời cần sự thận trọng... Sau cùng, Thúc lắc đầu:

- Chịu chết... không nghĩ ra ai...

Anh thở dài, ngả người lên tựa ghế, khẽ nói:

- Ngà không có giao thiệp nhiều từ ngày cô ấy sang đây... kể cả cái thằng... chết bầm kia...

Tôi biết Thúc ám chỉ anh tình địch "danh ca". Tôi cũng đi thẳng vào vấn đề, hỏi:

- Anh có nghi tên kia làm liều vì ghen ngược không?

Thúc nhăn mặt, coi vẻ khó chịu, rồi lắc đầu:

- Cái thằng hèn đó không dám đâu... Nếu anh gặp nó, anh sẽ thấy cái tình trạng hết sức khôi hài... Một thằng nhà quê, chột mắt... vô học... khúm núm... sợ sệt và vô cùng ngô nghê... Nhiều lúc tôi thực không hiểu tại sao Ngà lại dan díu với một thằng như vậy...

Tôi hỏi thẳng:

- Anh có tìm hiểu việc này về phía Ngà không?

Thúc lắc đầu, đấm tay xuống ghế:

- Tôi có hỏi, cô ấy chỉ lắc đầu... coi bộ đau khổ và có điều gì khó nói... Rồi khi bị tôi cật vấn thêm, cô ấy la lên nói càn là chuyện đã vậy, tôi đừng hỏi nữa...

Cả hai chúng tôi đều điên đầu:

- Vậy thì Ngà tự tử???

Câu hỏi cứ vang lên trong đầu tôi... Có lẽ Thúc cũng cùng một tâm trạng như thế.

-Ngà từ xưa đến nay rất nhút nhát... đâu có thể làm một chuyện ghê gớm chừng ấy...

Hình như chỉ có tôi độc thoại... Thúc im lặng ngồi nghe lời bàn của tôi:

- Anh có thấy dấu hiệu đặc biệt gì chứng tỏ Ngà có ý định tự tử không?

Thúc chán nản lắc đầu. Tôi hỏi tiếp:

- Có hành động gì khác thường không?

Thúc im lặng hồi lâu. Anh như muốn lại lắc đầu nữa... nhưng bất chợt, anh nhỏm người:

- Ờ... thỉnh thoảng cô ấy từ trong phòng tắm chạy ra có vẻ hốt hoảng...

Tôi hỏi ngay:

- Trong nhà tắm có gì lạ không?

Chúng tôi kéo nhau vào phòng tắm duy nhất của căn nhà hai phòng ngủ của vợ chồng Thúc. Chiếc gương thật lớn... trên bồn rửa mặt còn đấy những chai lọ, đồ mỹ phẩm của Ngà... một mùi nước hoa cỏ dại thoang thoảng... Căn phòng tắm chẳng có gì đáng chú ý cả...

Chúng tôi lại trở ra phòng khách. Thúc như chợt nhớ ra điều gì, nói:

- Ban đêm thì có lẽ lạ hơn...

- Sao?

Thúc diễn tả một cách khó khăn qua cái nhăn mặt, nhíu mày:

- Có những đêm tôi thức giấc vì Ngà vật mình, run rẩy... Hai tay cứ như bấu vào da thịt, như muốn vặt chúng ra từng mảnh... Tôi lay gọi càng làm cho cô ấy thêm hốt hoảng. Sau cùng, Ngà thở dốc, rên lên khe khẽ...

- Có thể Ngà còn bị ám ảnh bởi những ngày vượt biển gian khổ nên gặp những cơn ác mộng đó thôi.

- Thì tôi cũng nghĩ thế.

- Anh không hỏi Ngà về tình trạng này sao?

- Không, tôi nghĩ càng hỏi, càng làm cho Ngà thêm buồn thôi... Rồi tới ngày bắt gặp cô ngoại tình... tôi càng không muốn hỏi nữa...

Thúc ngập ngừng một lúc, rồi khẽ nói:

- Nhiều lần, tôi có cảm tưởng như Ngà muốn cự tuyệt làm tình với tôi... Có khi phản ứng như bị cưỡng hiếp...

Vụ Ngà vượt biên, chúng tôi chỉ được biết đại khái thuyền nàng đã bị hải tặc kéo vào một hoang đảo, rồi nàng trốn trên đảo này nhiều ngày trước khi được một chiếc tầu tỵ nạn khác gặp bão trôi dạt vào đó cứu đi. Câu thắc mắc cho đến giờ, là những chuyện xảy ra trên đảo... nhưng dù sao cuộc vượt biên chắc chắn đã ghi lại nhiều ấn tượng hãi hùng mà ít ai quên nổi.

Hiện nội vụ cũng chưa đủ bằng cớ kết tội Thúc giết vợ, nhưng thủ tục điều tra cũng sẽ khiến cho Thúc vô cùng phiền phức, trừ khi chúng tôi chứng minh được một cách rõ ràng là Ngà đã tự tử. Ngà tự tử? Lý do? Lý do nào đã khiến nàng tự tử một cách ghê rợn như vậy, thay vì chỉ cần một liều quá độ thuốc ngủ để chết một cách êm ái? Chính cái chết man rợ của nạn nhân đã khiến cho luận cứ tự tử bị bác dễ dàng... Hay là Ngà bị bệnh thần kinh? Có thể lắm... Chứng cớ về bệnh trạng đâu???

- Ngà có hay đi khám bác sĩ không?

- Thỉnh thoảng... những lúc bị cảm cúm...

- Có gì chứng tỏ Ngà bị khủng hoảng tinh thần... không nhỉ?

- Buồn hơn xưa thì có... ít nói.

- Mình phải tìm bằng cớ chứng tỏ Ngà bất bình thường... đến độ có thể sinh ra những hành động phi lý không thể tự kiểm soát được... để biện minh cho cái cách tự tử khác thường của Ngà...

Tuy đã bỏ hành nghề đã lâu, nhưng những lối suy nghĩ nghề nghiệp vẫn còn phần nào trong con người chúng tôi, nên chỉ gợi ý như vậy, Thúc cũng đủ hiểu. Anh bóp trán một lúc, rồi nói:

- Đúng như vậy... Mình có thể khởi đầu từ ông bác sĩ gia đình của Ngà...

Tôi lấy giấy bút ghi chép một vài việc trước sau phải làm để gỡ tội cho Thúc.

Bỗng trong đầu tôi lóe lên một tia sáng, khẽ la lên:

- Thúc... mình quên một điều quan trọng.

Thúc thẫn thờ:

- Gì?

- Ngà là một nhà văn.

Câu nhận định của tôi rơi vào khoảng không vô thức, Thúc hời hợt:

- Ừ, thì sao?

Tôi cố thuyết phục anh:

- Vượt biên là một khúc rẽ quan trọng của một đời người tỵ nạn... tôi tin là một nhà văn, Ngà không thể không ghi lại những gì Ngà đã trải qua... đó không hẳn là một thích thú... nhưng là một nhu cầu... Tôi cũng là người viết văn, tôi hiểu cái nhu cầu đó...

Thúc suy nghĩ, rồi gượng gạo nói:

- Tôi không thấy Ngà viết gì từ ngày sang đây... Nhưng cũng có thể cô ấy viết lúc tôi không có ở nhà... nhưng có can hệ gì chứ?

Tôi thực thất vọng vì Thúc như đã mất cái bén nhậy nghề nghiệp của thời trước, nên tôi phải nhắc:

- Thúc quên rằng từ đó, mình có thể tìm ra những khúc mắc bên trong sao?

Thúc hững hờ:

- Ừ, cũng có thể...

Trời đã bắt đầu tối. Tôi đứng lên nói:

- Anh nằm nghỉ một lát, tôi chạy ra phố kiếm cái gì về ăn, rồi mình thử tìm kiếm xem... Đó có thể là một cuốn nhật ký, một cái thư...

Thúc mệt mỏi nằm xuống sô-fa, thở dài:

- Cũng được.

Tôi mở cửa bước ra ngoài. Đứng nhìn ngôi nhà xinh xắn của vợ chồng bạn, nay phút chốc đã là nơi vừa xảy ra một thảm kịch... lòng tôi thực bùi ngùi... Trước đây, mỗi lần tới, tôi đều cảm thấy ấm lòng cho cái kiếp lang bạt, cô đơn của mình... Ngờ đâu... Ngà... Nàng đã bị giết... Nàng đã tự tử... Nàng vì ai mà chết thảm... Người đó có thể là tôi chăng? Tại sao Ngà lại chẳng phải là vợ tôi, thay vì Thúc? Trước đây, tôi đâu có kém gì Thúc... lại cùng hội, cùng thuyền với nàng trong những dòng tư tưởng, những bài thơ, những câu văn của một thời hoa bướm!

Buổi tối, tôi trở lại đánh thức Thúc dậy. Hai đứa ngồi ăn cho xong mấy đĩa cơm làm sẵn, nhai cơm mà có cảm tưởng như nhai đất... nuốt vội cho xong.

- Thúc có biết Ngà để những đồ tư dùng ở đâu không?

- Thì cũng quanh quẩn trong phòng thôi chứ gì.

- Còn căn phòng thứ hai?

- Để không. Định cho mướn, nhưng chưa tìm được người.

>> Đọc thêm: Truyện ma kinh dị - Thung lũng ma - Truyện ma kinh dị - Thung lũng ma (P4)

>> Đọc thêm các truyện ma có thật hấp dẫn tại đây

nguồn: truyenngan.com.vn