Tin biển Đông: Các mối quan tâm của Mỹ ở "biển Đông". Mỹ có hai mối quan tâm chính ở Biển Đông: quyền tiếp cận và sự ổn định. Trước hết, Mỹ quan tâm mạnh mẽ đến việc duy trì quyền tự do tiếp cận các vùng nước của khu vực này.

Theo quan điểm của Washington, tất cả các quốc gia đều có quyền tự do, bao gồm cả quyền tự do hàng hải, trên vùng biển nằm ngoài vùng lãnh hải rộng 12 hải lý của bất kỳ quốc gia ven biển nào. Có hai lý do khiến quyền tự do tiếp cận các vùng nước ở Biển Đông lại quan trọng đến vậy.

Thứ nhất là quyền này củng cố động lực kinh tế của khu vực, vốn dựa trên hoạt động thương mại rộng khắp không chỉ ở khu vực, mà còn trên quy mô quốc tế. Vùng nước này là nơi lưu chuyển hơn 5 nghìn tỉ đô-la giao dịch thương mại mỗi năm, trong đó có hơn 1 nghìn tỉ đô-la là giao dịch thương mại với Mỹ.

my-quan-tam-bien-dong-2-.jpg

Thứ hai, khả năng tiếp cận tự do giúp Mỹ duy trì năng lực dự phóng sức mạnh quân sự, không chỉ ở Đông Á mà khắp thế giới. Để ra Ấn Độ Dương và Vịnh Ba Tư, nhiều tàu hải quân của Mỹ từ bờ Tây và Nhật đều phải đi qua Biển Đông.

Tuy nhiên, khả năng tự do tiếp cận ở Biển Đông gặp phải những thách thức sau.

Trước hết là cách diễn giải của TQ về quyền của các quốc gia ven biển đối với Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) của mình. Từ sau vụ đụng độ với máy bay EP-3 của Mỹ năm 2001 trên đảo Hải Nam, TQ đã sử dụng đủ mọi lý lẽ pháp lý nhằm mục đích hạn chế các hoạt động quân sự của Mỹ trong Vùng Đặc quyền Kinh tế của nước mình. TQ cũng tìm cách áp đặt quy định giới hạn tương tự trên toàn Biển Đông.

Thách thức thứ hai là hoạt động hiện đại hóa của lực lượng hải quân TQ (PLAN), dần dà tiến trình này sẽ được sử dụng để đánh bật tàu hải quân của Mỹ ra khỏi các vùng nước của khu vực. Tuy nhiên, với tham vọng bành trướng ở Biển Đông, sẽ phải mất vài chục năm nữa Hạm đội Nam Hải của PLAN mới có thể đủ năng lực làm việc này.

Thứ hai, Mỹ rất quan tâm đến việc gìn giữ hòa bình và sự ổn định trong khu vực Đông Nam Á. Tương tự như quyền tiếp cận mở và tự do, sự ổn định của khu vực cũng giúp duy trì sự thịnh vượng không chỉ của Đông Á mà còn cả của Mỹ.

Sự ổn định của khu vực Biển Đông phải đối mặt với một số nguy cơ. Trước hết là nguy cơ xung đột vũ trang giữa các bên có tuyên bố chủ quyền lãnh thổ chồng lấn đối với các thực thể như đảo và dải san hô, và quyền trên biển như Vùng Đặc quyền Kinh tế. Chẳng hạn hai lần đụng độ giữa VN và TQ vào năm 1974 (Nhóm đảo Lưỡi liềm, quần đảo Hoàng Sa) và năm 1988 (đảo Gạc Ma).

Nguy cơ thứ hai đe dọa sự ổn định là tần suất sử dụng ngày càng thường xuyên các biện pháp cưỡng ép, không bao gồm xung đột vũ trang, để thúc đẩy tuyên bố chủ quyền. Việc TQ đe dọa các công ty dầu khí của Mỹ hoạt động tại khu vực này năm 2007 và 2008 là một ví dụ.

Nguy cơ thứ ba là hoạt động hiện đại hóa lực lượng hải quân của các nước trong khu vực. Vòng xoáy ốc bất ổn định trong các tranh chấp chủ quyền và quyền lãnh hải có thể phát triển thành cuộc chạy đua năng lực và đối đầu an ninh, và theo hướng này khả năng xảy ra đụng độ sẽ gia tăng.

Nguồn thứ tư, là nguy cơ gia tăng nỗ lực tương ứng của TQ và Mỹ trong vấn đề đe dọa và duy trì quyền tiếp cận. Đáp lại năng lực "chống can thiệp/phong tỏa khu vực" mới phát triển của TQ, bao gồm một tên lửa đạn đạo đối hạm, quân đội Mỹ đã phát triển một khái niệm hoạt động mới là Thủy Không tác chiến, nhằm đảm bảo Mỹ có thể tiếp cận các vùng nước này khi chiến sự nổ ra. Những nỗ lực phát triển năng lực như vậy trong thời bình rất dễ dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang "quyền tiếp cận" và khiến nguy cơ bất ổn định gia tăng.

Ngoài quyền tiếp cận và sự ổn định, Mỹ còn quan tâm đến việc duy trì cam kết với các đồng minh trong khu vực, nhưng đồng thời không để các đồng minh lôi mình vào những tranh chấp cụ thể. Một mối quan tâm khác là duy trì mối quan hệ hợp tác và ổn định với TQ, trong đó các tranh chấp hàng hải ở Đông Á chỉ là một phần.

Theo - http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/210793/bien-dong-cang--nong---my-cang-tham-gia-sau-.html -