Tin trong ngày - theo thông tin tư liệu thế giới cho biết: Câu chuyện về những bí mật trong chương trình hạt nhân được bắt nguồn từ nhà máy dệt tại Israel. Và Israel đã tìm đủ mọi cách ngụy trang cho cơ sở bí mật này để làm sao Mỹ không tìm ra manh mối của lò phản ứng hạt nhân khủng nhất thế giới, với những bí mật nguy hiểm.

Mùa thu năm 1960, Tổng thống Dwight D. Eisenhower gặp phải một vấn đề lớn không thể ngờ tới khi các nhà ngoại giao và tình báo Mỹ khẳng định Israel đang xây dựng một lò phản ứng hạt nhân bí mật ở sa mạc Negev, nhờ sự hỗ trợ của Pháp. Mau chóng đi đến kết luận Israel đang tìm cách xây dựng năng lực hạt nhân cho riêng mình, chính quyền Mỹ nhận thấy đây là một mối đe dọa cho sự ổn định chiến lược tại khu vực Trung Đông và nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân. Giám đốc Cơ quan tình báo Mỹ (CIA) lúc đó là Allen Dulles coi hành động này của Israel như "đổ thêm dầu vào lửa". Khi người Mỹ bắt đầu hỏi về Dimona, vị trí đặt cơ sở hạt nhân của Israel, Tel Aviv đã tìm cách lảng tránh và che giấu bằng những câu chuyện ngụy trang không hợp lý.

iran.jpg.jpg

Theo thống kê của tin tư liệu thế giới: Vào tháng 9/1960, Addy Cohen - Giám đốc Văn phòng hỗ trợ nước ngoài tại Bộ Tài chính Israel - đã mời Đại sứ Mỹ tại Israel Ogden Reid cùng một số quan chức ngoại giao Mỹ tham quan một nhà máy sản xuất kali tại Sdom, nằm bên bờ Biển Chết. Không quân Israel đã cử một máy bay trực thăng Sikorsky S-58 để chở đoàn tham quan bay từ Tel Aviv tới Sdom. Khi đoàn bay trở về, tới gần thành phố mới ở Dimona, Đại sứ Reid chỉ vào một cơ sở công nghiệp khổng lồ và hỏi đó là cơ sở gì. Câu hỏi này không phải là ngẫu nhiên vì một vài tháng trước, Đại sứ quán Mỹ tại Tel Aviv đã nghe ngóng thấy một số thông tin về một cơ sở hạt nhân bí mật đang được xây dựng ở Negev. Đây đúng là cơ hội tốt để hỏi một quan chức Israel có thông tin về vấn đề này. Và Cohen, trợ lý thân cận của Bộ trưởng Tài chính Levi Eshkol, đúng là người như vậy. Cohen biết về dự án bí mật trong một cuộc thảo luận bí mật và ông ta cũng biết mình không thể chia sẻ thông tin với các người bạn Mỹ.

"Tôi không được chuẩn bị để trả lời câu hỏi của Đại sứ Reid" về cơ sở Dimona, Cohen nhớ lại, vì thế ông ta lấp liếm bằng cách nói đó là một nhà máy dệt, bởi một người họ hàng của Cohen đồng thời là một kiến trúc sư đang thiết kế một nhà máy dệt tại khu vực này.

Nhiều năm sau đó, câu chuyện "nhà máy dệt" bắt đầu được nhắc đến thường xuyên trong các câu chuyện ngụy trang của Israel. Tuyên bố mới của Cohen cùng với các tài liệu mới được giải mã của Mỹ đã lần đầu tiên làm sáng tỏ câu đố lịch sử về việc Washington đã bỏ qua những dấu hiệu cảnh báo về cơ sở Dimona, cách nước này phát hiện một cách muộn màng về lò phản ứng hạt nhân của Israel và cách chính quyền Mỹ phản ứng trước phát hiện đó.

Chính quyền tổng thống Eisenhower chỉ phát hiện ra việc này sau hơn 5 năm khi Israel thông qua một cam kết bí mật về xây dựng một chương trình hạt nhân nhằm tìm cách sở hữu loại vũ khí đáng sợ này, sau hơn 3 năm khi Israel ký một thỏa thuận hạt nhân toàn diện bí mật với Pháp và sau hơn 2 năm hoặc lâu hơn thế khi Israel bắt đầu công việc xây dựng tại cơ sở Dimona. Đó thực sự là một thất bại lớn của tình báo Mỹ. Thất bại này cũng giống như việc Mỹ không thể phát hiện trước các cuộc thử nghiệm hạt nhân của Ấn Độ vào năm 1974 và 1998.

Ngược lại, đây lại là thành công đối với Israel, cho phép nước này có thêm thời gian quý giá để triển khai dự án Dimona. Nếu Mỹ phát hiện dự án Dimona sớm hơn 2 năm, thậm chí 1 năm, dự án hạt nhân còn dang dở của Israel khó có thể tồn tại trước sức ép của Mỹ và cộng đồng quốc tế.

Chính quyền Mỹ đã thực sự bất ngờ khi khám phá ra chương trình hạt nhân của Israel. Ngay sau khi Thủ tướng Israel David Ben - Gurion lên nắm quyền vào năm 1955, ông đã tiến hành một kế hoạch bí mật để xác định bằng cách nào Israel có thể xây dựng một cơ sở hạt nhân để hỗ trợ chương trình quốc gia hướng tới sản xuất vũ khí hạt nhân. Một quan chức quân đội cấp cao tên Shimon Peres đã được giao phụ trách dự án này. Trong vòng 3 năm, Peres gần như làm được những điều không tưởng khi biến ý tưởng về một chương trình hạt nhân quốc gia thành hiện thực. Peres tin rằng nước này không nên tốn thời gian vô ích mà nên tập trung vào việc tìm kiếm một nhà cung cấp nước ngoài có thể cung cấp một gói hạt nhân toàn diện phù hợp.

Năm 1958, Peres đề ra kế hoạch tổng thể cho dự án: Pháp có thể là nhà cung cấp nước ngoài chính về lò phản ứng hạt nhân và công nghệ liên quan, Na Uy có thể cung cấp nước nặng và có thể là kế hoạch dự phòng thay cho Pháp trong khi Mỹ, thông qua gói thỏa thuận hạt nhân vì mục đích hòa bình, có thể đóng vai trò ngụy trang cho toàn bộ chương trình cũng như che mắt chính người Mỹ. Israel đã tìm cách che giấu bằng cách nhờ Mỹ giúp xây dựng một lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ công suất 1MW tại Nachal Soreq theo chương trình "Hạt nhân vì mục đích hòa bình" của Mỹ.

Bí mật bao phủ quanh cơ sở Dimona chủ yếu nhằm vào Mỹ. Trong tất cả các cường quốc, Mỹ là mối đe dọa lớn nhất đối với sự sống còn của dự án này. Kể từ thời điểm đề xuất Kế hoạch kiểm soát năng lượng nguyên tử Baruch vào năm 1946, Mỹ được coi là bên phản đối việc phổ biến vũ khí hạt nhân. Ngoài ra, Mỹ cũng tham gia thành lập Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) vào năm 1957, cùng năm Pháp và Israel ký thỏa thuận xây dựng lò phản ứng hạt nhân. Nếu phát hiện ra chương trình hạt nhân của Israel, Mỹ có thể gây sức ép với Pháp và Israel để chấm dứt chương trình này hoặc ít nhất đặt nó dưới sự giám sát của quốc tế.

Nguồn: baotintuc